Hotline

Từ rút gọn & rút gọn từ

Từ rút gọn & rút gọn từ

GD&TĐ - Có một lần, trong một cuộc hội thảo quốc gia tổ chức tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), chúng tôi nghe vài tác giả sau khi trình bày tham luận của mình, đã đề nghị mọi người “tham góp” cho bài viết được hoàn thiện. 

Tra cứu nhiều từ điển cũng không hề tìm thấy nghĩa của từ “tham góp” quá lạ lẫm ấy, sau nhờ TS Ngôn ngữ học Hồ Xuân Tuyên ở ĐH Thủ Dầu Một giải thích, chúng tôi mới hiểu ra: “Tham góp” có thể là dạng rút gọn của tổ hợp từ “tham gia góp ý”, hoặc “góp ý cho tham luận” (!?).

Hiện tượng phổ dụng trong ngôn ngữ

“Rút gọn” (hay giản lược) là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, không chỉ có ở tiếng Việt; cũng là một nhu cầu/ yêu cầu trong diễn đạt và giao tiếp; nhằm giảm thiểu lượng ngôn từ, giúp việc diễn đạt gọn lại nhưng vẫn giữ được đầy đủ ý nghĩa, làm cho người nghe vẫn hiểu đúng lời của người nói, đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.

Nhiều trường hợp từ rút gọn đã dần được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi, phổ biến trong nhiều phong cách ngôn ngữ như: Khoa giáo (khoa học, giáo dục), điều nghiên (điều tra, nghiên cứu), kích cầu (kích thích nhu cầu tiêu dùng), tham vấn (tham gia, tư vấn), khiếu kiện (khiếu nại, kiện tụng), bàn thảo (bàn bạc, thảo luận), thiếu nhi (thiếu niên, nhi đồng), công nông binh (công nhân, nông dân, binh lính), nhắc nhớ (nhắc lại cho nhớ).

Đồng thời, rút gọn từ còn là một cách tạo từ mới. Yêu cầu đặt ra là từ mới ấy phải ổn định, nhanh chóng trở nên phổ biến, nói chung có thể nghe hiểu và đọc hiểu được mà không cần phải gắn với một văn cảnh cụ thể.

Việc tạo từ mới kiểu này còn những trường hợp chưa được cộng đồng chấp nhận, tuy nhiên, nó vẫn là một vấn đề có tính thời sự cao, đang tiếp diễn và dần dần đi vào ổn định.

Đã xuất hiện từ lâu

Thực tế, hiện tượng rút gọn từ trong tiếng Việt, đặc biệt là trên các phương tiện thông tin đại chúng, đang trở thành một xu hướng với những biểu hiện vừa đa dạng, vừa phong phú.

Biến một một từ/ ngữ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn thành cấu trúc nhỏ, đơn giản hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ/ ngữ gồm nhiều thành tố thành từ ít thành tố hơn. Ví dụ: (Ông) cử nhân→ (ông) cử, (bác) tài xế→ (bác) tài, ki-lô-gam→ ki lô/ kí.

Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, nhất thiết ở mọi đơn vị, có khi chỉ để tiết kiệm ngôn ngữ trong giao tiếp. Hiện tượng rút gọn không phải mới xuất hiện gần đây trong tiếng Việt, mà có khả năng đã tồn tại từ lâu, qua trường hợp các từ đơn đa âm trong từ vựng toàn dân thường được rút gọn khi sử dụng, như: (Con) ve - (con) ve ve, (con) bướm - (con) bươm bướm, đóm - đom đóm (Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe, Nguyễn Khuyến)...

Cạnh đó còn có trường hợp rút gọn từ ở từng địa phương, theo từng khu vực, hoặc phương ngữ/ thổ ngữ, như các từ hay dùng trong nông nghiệp: Hec-ta →hec, cà phê →cà, sầu riêng→ sầu, măng cụt→ măng.

Hoặc rút gọn trong xưng gọi: Ông nội/ bà nội→ nội, ông ngoại/ bà ngoại→ ngoại ; ở ngôi thứ ba: Ông ấy → ổng, bà/anh/chị/ cô ấy → bả/ ảnh/ chỉ/cổ...

Rút gọn khi nói về nơi chốn, địa điểm:

Bên ấy→bển, trong ấy → trỏng, trên ấy → trển...

Nên cân nhắc khi rút gọn từ

rút gọn từ là hiện tượng quen thuộc, cần thiết trong quá trình giao tiếp, tuy nhiên theo chúng tôi, cách rút gọn thành từ “tham góp” như trên, chưa đáp ứng các yêu cầu tạo từ mới - từ rút gọn.

Tham khảo thêm các văn bản khác, chúng tôi dễ dàng nhặt ra nhiều từ rút gọn tuỳ hứng, lộn xộn, bất hợp lí, gây phản ứng khác nhau trong dư luận, thậm chí có trường hợp gây phản cảm. Như các từ chăm bồi (chăm sóc và bồi dưỡng), cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ), sơ nét (sơ qua vài nét), cô súc (cô đọng và súc tích), thanh thải (thanh lý, thải loại), trao truyền (trao lại, lưu truyền), lãnh đội (lãnh đạo đội).

Người viết bài này có lần hết sức ngạc nhiên, ngơ ngác khi nghe mấy bạn trẻ nói giọng Bắc trò chuyện với nhau dùng từ “dư lào”, về sau suy luận mãi mới hiểu ra đó là dạng rút gọn (có trại âm) của tổ hợp “như thế nào”!

Như vậy, rút gọn từ là xu hướng tự nhiên, không thể cưỡng lại được. Tuy nhiên từ rút gọn cần dễ hiểu, tránh trường hợp võ đoán, tùy tiện như những câu chuyện hài hước về rút gọn từ, kiểu như trung cấp, cao đẳng, đại học, bồi dưỡng, bổ túc rút gọn thành “trung cao đại bồi bổ”; ngoan ngoãn và cố gắng rút gọn thành “ngoan cố” ; đào tạo, bồi dưỡng thành “đào bồi”; và trong quá trình vận dụng rút gọn từ, nếu tùy hứng, lạm dụng thái quá sẽ gây hiệu ứng ngược.

Đã từng có ý kiến phản đối cách dùng từ “thiếu đói” (thiếu ăn và đói ăn) trong phát ngôn “Không được để bà con sau bão lũ bị thiếu đói”, vì cho rằng: Theo trật tự kết hợp trong tiếng Việt thì nghĩa của từ “thiếu đói” là ít đói, là không đói lắm, tức là no!

Cũng cần lưu ý thêm trường hợp những từ Hán Việt vốn có sẵn, mang nghĩa cổ khác biệt, ít dùng, nay bỗng dưng được sử dụng nhiều hơn với nghĩa mới, dễ gây lầm tưởng chúng là những từ rút gọn mới, (vì cấu trúc của nó tương đối giống từ rút gọn) như: Tuyên giáo vốn có nghĩa là “truyền đạo” [Nguyễn Văn Khôn (1960), Hán Việt từ điển, Nhà sách Khai Trí, tr.899] nay được dùng với nghĩa là tuyên truyền, giáo dục; tương tự một số từ khác như quan ngại: “Ngăn cản, trở ngại” [Sách đã dẫn, tr.749] → quan tâm, lo ngại; trân quý: “Quý báu” [Sđd, tr.1021] → trân trọng, quý mến; thục luyện: “Thành thuộc và lão luyện” [Sđd, tr.992] → luyện tập cho thành thục; vi diệu: “Mầu nhiệm, huyền diệu” [Sđd, tr.1067] → tinh vi, kỳ diệu; vấn nạn: “Hỏi vặn” [Sđd, tr.1064] → vấn đề tệ nạn.

Rút gọn từ không phải là hiện tượng mới mẻ trong tiếng Việt, nhưng trước thực tế xuất hiện nhiều kiểu rút gọn “lạ lẫm” hiện nay, có lẽ mọi người cũng nên quan tâm cân nhắc khi sử dụng, nhằm ổn định xu hướng rút gọn từ cho đúng đắn và giữ được sự trong sáng của tiếng Việt.

Cần lưu ý thêm, rút gọn từ luôn gắn với hoàn cảnh nói năng cụ thể, do đó phải quan tâm không chỉ đến mặt biểu niệm của lời nói mà cần chú ý đến cả phương diện biểu thái của ngôn ngữ; cân nhắc sử dụng từ rút gọn đúng nghĩa, đúng nơi, đúng lúc, để phát huy hiệu quả tối ưu khi giao tiếp, tránh lạm dụng, tùy tiện rút gọn đến mức ngô nghê gây phản cảm.

Đỗ Thành

BÌNH LUẬN

Refresh